Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương
1.1. Giai đoạn 1931 - 1932: Khủng bố trắng sau Xô Viết Nghệ Tĩnh
Sau cao trào cách mạng 1930–1931, đặc biệt là Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp tiến hành một chiến dịch đàn áp quy mô lớn nhằm tiêu diệt các lực lượng cách mạng. Hàng loạt cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên bị bắt giam, tra tấn hoặc xử tử. Các cơ sở của Đoàn TNCS Đông Dương bị phá vỡ, hệ thống tổ chức gần như tan rã ở nhiều địa phương.
Trong hoàn cảnh đó, phong trào thanh niên cách mạng rơi vào tình trạng hết sức khó khăn. Hoạt động công khai gần như không thể thực hiện, các lực lượng phải rút vào hoạt động bí mật để bảo toàn lực lượng.
1.2. Giai đoạn 1932 - 1934: Hoạt động bí mật và khôi phục lực lượng
Từ năm 1932, các tổ chức cách mạng từng bước khôi phục lại lực lượng sau thời kỳ khủng bố. Những đoàn viên còn lại bí mật gây dựng lại cơ sở, kết nối lại các nhóm thanh niên yêu nước và tiếp tục truyền bá tư tưởng cách mạng trong quần chúng.
1.3. Giai đoạn từ năm 1935 - 1936: Phục hồi tổ chức và chuyển hướng đấu tranh
Năm 1935 đánh dấu bước ngoặt quan trọng với việc Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và các đoàn thể quần chúng, trong đó có tổ chức thanh niên.
Năm 1936, tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển với sự thắng cử của Mặt trận Bình dân Pháp, tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho phong trào cách mạng ở các thuộc địa. Trước bối cảnh đó, Đảng chủ trương chuyển hướng đấu tranh sang đòi các quyền dân sinh, dân chủ.
Khủng bố trắng
Rút vào bí mật
Đại hội Đảng I (1935)
Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
(Nguồn: Ảnh tư liệu BTLSQG).
Sau khi Mặt trận Nhân dân Pháp thắng cử (6/1936), chính phủ phái tả lên cầm quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng. Tháng 7/1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra đường lối mới: trước mắt chống phản động thuộc địa, đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống; thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế (sau là Mặt trận Thống nhất Dân chủ).
Theo đó, trong thời kỳ cách mạng từ giữa năm 1936 đến mùa thu năm 1939, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương mang tên Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương phù hợp với nhiệm vụ chính trị qua các nghị quyết của Đảng như trên đã nêu. Đoàn Thanh niên Dân chủ hoạt động công khai, có cơ quan báo chí riêng, đó là các tờ “Bạn dân”, “Thế giới”, “Mới” phát hành ở cả ba miền đất nước. Đoàn đã xây dựng đội ngũ của mình gồm hàng vạn đoàn viên, đấu tranh kiên cường dưới ngọn cờ của Đảng, tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương (1931 – 1935).
Ngoài việc phát hành báo, tổ chức Đoàn còn lập các Hội đọc sách, Hội văn nghệ, Hội thể thao, đặc biệt là hình thành các nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác.
Nhiều tác phẩm chính trị, văn học của C.Mác. F.Angghen, V.I.Lênin, Goocki… như: “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”, “Tư bản”, “Nhà nước là gì?”, “Người mẹ”… cũng như các cuốn sách do các chiến sĩ cộng sản Việt Nam viết như: “Vấn đề dân cầy” của Qua Ninh và Vân Đình, “Mác xít phổ thông” của Hải Triều và Thơ Tố Hữu được đông đảo đoàn viên, thanh niên hân hoan đón đọc.
Được sự quan tâm của các Xứ ủy Đảng, phong trào TN và tổ chức Đoàn được củng cố, phát triển sâu rộng, có hệ thống từ cơ sở lên đến tỉnh, thành và xứ. Tuy nhiên, đến tháng 9/1939, đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Thực dân Pháp thẳng tay thi hành chính sách đàn áp, khủng bố phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và TN ta. Tổ chức Đoàn phải trở lại hoạt động bí mật.
Bạn dân, Thế giới, Mới
Nghiên cứu Mác-xít
Hàng vạn đoàn viên
Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương
Tháng 11/1939, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 của Đảng họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương, đồng thời chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng chống đế quốc. Trên cơ sở đó, tổ chức thanh niên cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương đổi tên thành Đoàn Thanh niên Phản đế Đông Dương, đánh dấu bước chuyển từ đấu tranh dân chủ công khai sang đấu tranh cách mạng mang tính chất giải phóng dân tộc, bí mật và quyết liệt hơn.
Trong bối cảnh bị thực dân Pháp đàn áp và sau đó là sự xâm lược của phát xít Nhật, công tác Đoàn tập trung trước hết vào việc củng cố tổ chức theo hướng bí mật, chặt chẽ và có kỷ luật cao. Các cơ sở Đoàn được xây dựng và phát triển ở nhiều địa bàn quan trọng như nông thôn, nhà máy, trường học, hình thành mạng lưới liên kết từ cơ sở đến cấp trên, bảo đảm duy trì phong trào trong điều kiện khủng bố gắt gao. Việc lựa chọn, thử thách và rèn luyện đoàn viên được đặc biệt chú trọng: những đoàn viên ưu tú từ thời kỳ Dân chủ được sàng lọc, chuyển thành đoàn viên Phản đế; đồng thời thanh niên trong các tổ chức quần chúng được giao nhiệm vụ cụ thể để vừa hoạt động, vừa được bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ cho cách mạng.
Bên cạnh đó, công tác Đoàn còn hướng mạnh vào giáo dục tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc và chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang. Thanh niên được vận động tham gia các phong trào chống áp bức, tích cực hưởng ứng và đi đầu trong các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương. Thông qua thực tiễn đấu tranh, lực lượng thanh niên không ngừng trưởng thành cả về tổ chức lẫn ý thức chính trị, từng bước chuyển từ hoạt động chính trị sang kết hợp với đấu tranh vũ trang.
Như vậy, trong giai đoạn 1939–1941, công tác Đoàn đã có sự chuyển biến căn bản: từ hoạt động công khai sang bí mật, từ đấu tranh dân chủ sang đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng, đào tạo cán bộ và chuẩn bị cho cao trào cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Bí mật, Vũ trang
Các cuộc khởi nghĩa
Giải phóng dân tộc
Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam
4.1. 5/1941 Thành lập Đội Thiếu niên cứu quốc Việt Nam
Giai đoạn này gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đặt nền móng cho vai trò lịch sử của thanh niên Việt Nam trong cách mạng. Sau khi Hồ Chí Minh về nước (1941), nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, thanh niên trở thành lực lượng xung kích, tiên phong trong mọi phong trào đấu tranh. Tháng 5/1941, tại Hội nghị Trung ương 8, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Trong hệ thống tổ chức của Việt Minh có Thanh niên Cứu quốc, tổ chức tiền thân của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ngày nay.
Tổ chức Thanh niên Cứu quốc ra đời với mục tiêu tập hợp những thanh niên yêu nước, khơi dậy tinh thần dân tộc và truyền bá tư tưởng cách mạng đến đông đảo quần chúng. Đồng thời, tổ chức còn chuẩn bị lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc trong tương lai.
Trong giai đoạn này, thanh niên không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền mà còn trực tiếp tham gia xây dựng các lực lượng cách mạng như Đội tự vệ cứu quốc, Đội tuyên truyền giải phóng và mạng lưới liên lạc bí mật. Nhờ vậy, thanh niên nhanh chóng trở thành lực lượng nòng cốt, đóng vai trò xung kích trong phong trào Việt Minh.
4.2. Thanh niên trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945
Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã chín muồi sau nhiều năm chuẩn bị lực lượng và gây dựng phong trào quần chúng, thanh niên trên khắp mọi miền đất nước đã đồng loạt đứng lên, trở thành lực lượng xung kích trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong bầu không khí sục sôi của những ngày lịch sử, tuổi trẻ Việt Nam đã mang trong mình niềm tin mãnh liệt vào tương lai độc lập của dân tộc, sẵn sàng dấn thân và hy sinh vì Tổ quốc. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, hình ảnh những đoàn thanh niên hăng hái tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình, diễu hành đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do cháy bỏng.
Không chỉ dừng lại ở việc cổ vũ tinh thần quần chúng, thanh niên còn trực tiếp tham gia giành chính quyền tại nhiều địa phương, phối hợp cùng các lực lượng cách mạng tổ chức tiếp quản cơ quan hành chính, bảo vệ trật tự xã hội và duy trì hoạt động của chính quyền mới. Ở nhiều nơi, chính thanh niên là những người đi đầu trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ chính quyền cách mạng, góp phần củng cố niềm tin của quần chúng vào một tương lai mới. Trước muôn vàn khó khăn của những ngày đầu lập nước, họ tiếp tục đứng ở tuyến đầu để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững chính quyền non trẻ trước các thế lực thù địch và những thách thức chồng chất.
Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã đưa dân tộc Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ra đời, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc sau hàng chục năm sống dưới ách đô hộ. Sự kiện trọng đại ấy không chỉ là thành quả của toàn dân tộc mà còn in đậm dấu ấn đóng góp to lớn của thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ đây, thanh niên tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, trở thành lực lượng xung kích của Nhà nước mới, sẵn sàng đảm nhận những nhiệm vụ lớn lao trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tinh thần dấn thân, nhiệt huyết và lý tưởng cao đẹp của tuổi trẻ trong mùa thu lịch sử năm 1945 đã trở thành nguồn cảm hứng bền bỉ cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam về sau.
4.3. Thanh niên trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)
Sau khi đất nước vừa giành được độc lập chưa lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, buộc dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Trong hoàn cảnh đó, thanh niên Việt Nam một lần nữa trở thành lực lượng xung kích, sẵn sàng rời giảng đường, nhà máy, ruộng đồng để lên đường bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu thanh niên hăng hái gia nhập quân đội, tham gia các đơn vị chủ lực, dân quân du kích, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho cuộc kháng chiến. Cũng trong thời kỳ này, lực lượng Thanh niên xung phong được hình thành và nhanh chóng trở thành biểu tượng của tinh thần dấn thân, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần.
Trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, thanh niên có mặt trên khắp các chiến trường và tuyến hậu phương. Họ mở đường xuyên rừng, bạt núi để đảm bảo giao thông cho các chiến dịch; vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược bằng sức người vượt qua núi cao, vực sâu; chăm sóc, cứu chữa thương binh trong điều kiện thiếu thốn trăm bề; đồng thời trực tiếp cầm súng chiến đấu, đối mặt với bom đạn nơi tuyến lửa. Dù phải sống và làm việc trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ, thiếu thốn và nguy hiểm, thế hệ thanh niên thời kỳ này vẫn luôn giữ vững ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan và niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng. Chính sự hy sinh, cống hiến thầm lặng nhưng to lớn của họ đã góp phần quan trọng làm nên sức mạnh của toàn dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi vẻ vang.
4.4. Thanh niên trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 trận quyết chiến chiến lược mang ý nghĩa lịch sử của dân tộc, thanh niên Việt Nam đã góp phần tạo nên một trong những bản anh hùng ca vĩ đại nhất của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hàng vạn thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến đã không quản hiểm nguy, ngày đêm bám trụ nơi núi rừng Tây Bắc, mở đường xuyên rừng sâu, vượt dốc cao, bạt núi, san đèo để đảm bảo giao thông phục vụ chiến dịch. Trong điều kiện thiếu thốn phương tiện, họ dùng chính sức người để kéo pháo, vận chuyển vũ khí, đạn dược và hàng nghìn tấn lương thực vào chiến trường, vượt qua mưa bom bão đạn và địa hình hiểm trở. Những bước chân không mỏi, những đôi vai gánh nặng và ý chí sắt đá của tuổi trẻ đã góp phần quyết định vào việc bảo đảm hậu cần – yếu tố then chốt làm làm nên thắng lợi của chiến dịch.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi quân sự vang dội mà còn là biểu tượng rực rỡ của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có sự hy sinh, cống hiến to lớn của thế hệ thanh niên. Chiến thắng ấy đã kết thúc chín năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, buộc kẻ thù phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Đồng thời, sự kiện lịch sử này đã mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hình ảnh người thanh niên trong chiến dịch Điện Biên Phủ vì thế mãi mãi trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam.
4.5. Thanh niên xây dựng miền Bắc sau hoà bình (1954–1956)
Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ hòa bình, mở ra một chặng đường lịch sử mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội và khôi phục đất nước sau nhiều năm chiến tranh tàn phá. Trong bối cảnh ấy, thanh niên Việt Nam lại tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của mình khi chuyển từ nhiệm vụ chiến đấu sang nhiệm vụ lao động, sản xuất và kiến thiết quê hương. Nếu trong chiến tranh họ là những người cầm súng nơi tiền tuyến, thì trong hòa bình, họ trở thành lực lượng xung kích trên mặt trận kinh tế, văn hóa và xã hội.
Hàng vạn thanh niên đã hăng hái tham gia các phong trào khôi phục kinh tế, cải tạo ruộng đất, tăng gia sản xuất, phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Từ đồng ruộng, công trường đến nhà máy, đâu đâu cũng có dấu chân của tuổi trẻ đang miệt mài lao động với tinh thần trách nhiệm và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước. Thanh niên còn góp sức xây dựng các công trình giao thông, cầu đường, nhà máy, trường học, bệnh viện, những nền móng quan trọng cho sự phát triển lâu dài của miền Bắc.
Đây chính là bước chuyển lịch sử đầy ý nghĩa: từ thế hệ thanh niên kháng chiến bước sang thế hệ thanh niên xây dựng đất nước. Dù trong chiến tranh hay hòa bình, tuổi trẻ Việt Nam vẫn luôn giữ vững tinh thần xung kích, sáng tạo và sẵn sàng cống vững, góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của Tổ quốc trong những giai đoạn tiếp theo.
Tổng khởi nghĩa
Chiến dịch ĐBP
Kiến thiết miền Bắc
Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
Từ ngày 25/10/1956, tổ chức Đoàn chính thức mang tên Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, đánh dấu một bước chuyển quan trọng phù hợp với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới. Sau Hiệp định Genève, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn của cả nước; trong khi miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh gian khổ nhằm giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, việc đổi tên tổ chức không chỉ mang ý nghĩa về mặt hình thức mà còn thể hiện rõ định hướng hoạt động và trách nhiệm lịch sử của thanh niên Việt Nam trước vận mệnh dân tộc.
Dưới ngọn cờ của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, tuổi trẻ cả nước được tập hợp, giáo dục và rèn luyện để vừa hăng hái lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc ngày càng vững mạnh, vừa sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt. Thanh niên trở thành lực lượng xung kích trên mọi mặt trận: từ công trường, nhà máy, nông trường, lớp học cho đến chiến trường ác liệt. Tinh thần “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy ý chí cống hiến và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp cách mạng.
Giai đoạn này đã khẳng định rõ vị trí của thanh niên như một lực lượng nòng cốt trong cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dù ở hậu phương hay tiền tuyến, tuổi trẻ Việt Nam vẫn luôn sẵn sàng dấn thân, góp phần làm nên sức mạnh to lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước.
5.1 Đại hội Đoàn toàn quốc lần II (1956)
Đại hội Đoàn toàn quốc lần II ngày 25/10/1956 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phong trào thanh niên Việt Nam. Tại Đại hội này, tổ chức Đoàn chính thức được đổi tên thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, thể hiện rõ định hướng hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới của đất nước. Đại hội đã xác định những nhiệm vụ lịch sử to lớn mà thế hệ trẻ cần gánh vác trong bối cảnh Tổ quốc tạm thời bị chia cắt: miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
(Nguồn: NHÂN VẬT - SỰ KIỆN CHUYÊN TRANG TƯ LIỆU CỦA THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM)
Khẩu hiệu nổi tiếng “Đâu cần thanh niên có – đâu khó có thanh niên” vang lên như lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần xung kích, tình nguyện và ý chí cống hiến của tuổi trẻ. Thanh niên được xác định là lực lượng tiên phong trong xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thông qua lao động sản xuất, học tập, nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, họ cũng là nguồn sức mạnh to lớn chi viện cho miền Nam, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc khi cần. Đại hội đã mở ra một giai đoạn mới, nơi tuổi trẻ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt của mình trên cả hai mặt trận: xây dựng và bảo vệ đất nước.
5.2. Phong trào “Ba sẵn sàng” (1965)
Năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, đất nước bước vào giai đoạn thử thách vô cùng khốc liệt. Trước yêu cầu cấp bách của Tổ quốc, phong trào “Ba sẵn sàng” đã ra đời và nhanh chóng lan tỏa mạnh mẽ trong thanh niên cả nước. Lời kêu gọi “sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần” không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành lời thề thiêng liêng của thế hệ trẻ. Hàng triệu thanh niên đã gác lại ước mơ cá nhân, rời giảng đường, nhà máy, ruộng đồng để khoác ba lô lên đường ra trận, tình nguyện trở thành những người lính, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến nơi tuyến lửa.
Phong trào “Ba sẵn sàng” đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước và tinh thần trách nhiệm trong trái kế trẻ, biến ý chí thành hành động cụ thể trên khắp mọi miền. Những đoàn quân nối dài lên đường nhập ngũ, những lá đơn tình nguyện viết bằng máu, những buổi tiễn đưa đầy xúc động đã trở thành hình ảnh quen thuộc của hậu phương miền Bắc trong những năm tháng chiến tranh. Chính từ phong trào này đã hình thành nên một thế hệ thanh niên anh hùng thời chống Mỹ – thế hệ sống có lý tưởng, dám hy sinh, dám cống hiến và sẵn sàng đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tất cả. Phong trào “Ba sẵn sàng” vì thế không chỉ góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến mà còn trở thành biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước và trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam.
5.3. Phong trào “Năm xung phong” miền Nam
Tại miền Nam, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, thanh niên đã phát động phong trào “Năm xung phong” như một lời tuyên thệ mạnh mẽ của tuổi trẻ trước vận mệnh dân tộc. Phong trào kêu gọi thanh niên xung phong diệt Mỹ, xung phong tòng quân, xung phong sản xuất, xung phong phục vụ chiến đấu và xung phong đấu tranh chính trị. Đây không chỉ là những khẩu hiệu mà đã trở thành hành động cụ thể, lan tỏa sâu rộng trong mọi tầng lớp thanh niên miền Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ hậu phương đến tiền tuyến.
Hàng vạn thanh niên đã tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang, tham gia các đội du kích, lực lượng giao liên, thanh niên xung phong và các tổ chức đấu tranh chính trị. Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, họ vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, vừa tham gia đấu tranh chính trị, góp phần tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp. Phong trào “Năm xung phong” đã khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của tuổi trẻ miền Nam, góp phần huy động toàn dân tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Đây là minh chứng tiêu biểu cho vai trò tiên phong, dũng cảm và đầy nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam trong những năm tháng lịch sử đầy gian khổ nhưng vô cùng hào hùng.
Phong trào Ba Sẵn Sàng
Phong trào Năm Xung Phong
Đâu cần thanh niên có
Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh
Giai đoạn từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 11 năm 1976 là thời kỳ mà tổ chức Đoàn gắn liền với những bước chuyển mình lớn lao của dân tộc: từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn và công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình. Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động ấy, Đoàn Thanh niên đã không ngừng trưởng thành, khẳng định vai trò là lực lượng xung kích cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam.
Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3-2-1930 – 3-2-1970), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết cho Đoàn Thanh niên và đội thiếu niên, Đội Nhi đồng được mang tên Bác.
Nghị quyết nêu rõ: “… Thể theo nguyện vọng của thế hệ trẻ nước ta và đề nghị của Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam”. Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Quyết định:
- Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam nay là Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
- Đội Thiếu niên tiền phong Việt Nam nay là Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
- Đội Nhi đồng Việt Nam nay là Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh.
Tổ chức Đoàn và tổ chức đội được mang tên Bác là vinh dự lớn lao, đồng thời là trách nhiệm nặng nề trước Tổ quốc và nhân dân. Đoàn ta được mang tên Bác Hồ càng làm rõ mục đích và tính chất của Đoàn là đội tiên phong chiến đấu của thanh niên, đi đầu phấn đấu cho lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng và Bác Hồ là độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tháng 4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Ngày 26/3/1976, Lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Tại Lễ kỷ niệm này, tổ chức Đoàn trong cả nước đã thống nhất mang tên chung là Đoàn Thanh Niên Lao động Hồ Chí Minh.
Đến tháng 11 năm 1976, quá trình chuẩn bị về tổ chức và tư tưởng cơ bản hoàn tất, tạo tiền đề cho bước phát triển mới của Đoàn. Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, dẫn tới việc chính thức mang tên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vào cuối năm 1976. Sự kiện này đánh dấu sự trưởng thành toàn diện của tổ chức Đoàn trong thời kỳ đất nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mang tên Bác (1970)
Giải phóng miền Nam (1975)
Kiến thiết đất nước
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam (2-1951) thành Đảng Cộng Sản Việt Nam và thể theo nguyện vọng của cán bộ, đoàn viên thanh niên cả nước, Đại hội Đảng lần thứ IV đã quyết định đổi tên Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh (1970) thành: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Đại hội Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn mới là: “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải được xây dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học cộng sản chủ nghĩa của lớp người trẻ tuổi, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng”.
Được mang tên Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là vinh dự và tự hào lớn của toàn thể cán bộ đoàn viên nước ta.
Đội hậu bị của Đảng
Trường học XHCN
Đổi mới & Phát triển